Trang chủ > Xuân Hòa - Một địa danh xưa

Xuân Hòa - Một địa danh xưa

17/01/2026 14:58:06

Theo sắp xếp đơn vị hành chính, quận 3 cũ gồm 3 phường mới: Bàn Cờ, Xuân Hòa và Nhiêu Lộc. Trong đó phường Xuân Hòa được nhập từ phường Võ Thị Sáu và một phần phường 4 trước đây. Nếu Nhiêu Lộc và Bàn Cờ là những cái tên đã quen thuộc với nhiều người thì Xuân Hòa lại khiến không ít người thắc mắc. 

1. Báo Tuổi Trẻ điện tử ngày 15-02-2018:

“Tân Định là tên thôn mới lập từ hai thôn cũ là Xuân Hoà và Phú Hòa. Do đó, trên vùng đất Tân Định còn hai di tích mang dấu ấn hai thôn xưa cũ này: đình Xuân Hòa và đình Phú Hòa.”(1)  

2. Báo Mực Tím điện tử ngày 19-04-2025:

“Thực ra, Xuân Hòa xuất hiện từ khá sớm. Theo sách Hành trình di sản văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Nhà xuất bản Thông tấn), tên gọi Xuân Hòa đã có từ năm 1880. Khi ấy, một số xã thôn theo địa bạ lập năm 1836 của triều Nguyễn bị xóa bỏ.

Một số tên xã thôn mới xuất hiện. Thôn Tân Định lúc bấy giờ đổi thành thôn Xuân Hòa. Đình Tân Định cũng đổi tên thành đình Xuân Hòa.”(2)  

3. Theo báo Thanh Niên điện tử ngày 19-04-2025:

“Về địa danh Xuân Hòa, UBND quận 3 lý giải ngày xưa vùng Tân Định có 2 làng, gồm làng Phú Hòa (hiện thuộc quận 1, nay còn tồn tại di tích đình Phú Hòa trên đường Trần Quang Khải) và làng Xuân Hòa nay còn tồn tại di tích đình Xuân Hòa trên đường Lý Chính Thắng (ở 129 Lý Chính Thắng P.7, Q.3). 

Địa danh Xuân Hòa có từ năm 1880 sau khi một số xã thôn theo địa bàn lập năm 1836 của triều Nguyễn bị xóa bỏ và thay bằng một số tên thôn, xã mới. Theo đó, thôn Tân Định đổi thành thôn Xuân Hòa thuộc tổng Bình Chánh Thượng, địa hạt 20. Đình Tân Định cũng đổi tên là đình Xuân Hòa cho đến nay.”(3)  

UBND quận 3 cho biết ranh giới phường Xuân Hòa gồm phường Võ Thị Sáu hiện hữu và thêm một phần nhỏ thuộc khu phố 3 của phường 4. Sau sáp nhập, phường Xuân Hòa rộng hơn 2,2km2, dân số hơn 48.000 người.

Như vậy có các vấn đề cần xác minh:

- Tân Định là tên thôn mới lập từ hai thôn cũ là Xuân Hòa và Phú Hòa.

- Vùng Tân Định có 2 làng, Phú Hòa, Xuân Hòa.

- Thôn Tân Định đổi thành thôn Xuân Hòa. Đình Tân Định cũng đổi tên là đình Xuân Hòa.

Chúng ta thử tìm hiểu xem các thông tin từ trên chính xác như thế nào qua các tư liệu.

1. Làng Tân Định được lập do nhập hai làng An Hòa, Hiệp Hòa Ngày 6-2-1882

Tân Định(4):  

Là lân(5) thuộc tổng Bình Trị, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An triều Gia Long(6). Triều Minh Mạng đổi thành thôn thuộc tổng Bình Trị Trung vẫn huyện, phủ cũ trấn Gia Định. Trải qua Triều Thiệu Trị, Tự Đức. Trong bản đồ Trần văn Học năm 1815 và các biến thể, ghi tên gò Tân Định là một vùng rộng lớn(7), có bề ngang từ Đông sang Tây kéo dài từ đường Hai Bà Trưng đến đường Cách mạng tháng 8 (Thiên Lý cũ).

Tân Định thôn, ở xứ cầu Kiệu (cựu lân)(8):

- Đông Giáp địa phận thôn Mỹ hội. 

- Tây giáp rạch nước và địa phận thôn Tân Hưng (sau là Hòa Hưng).

- Nam giáp đường Thiên Lý và địa phận các thôn Tân Hưng, Tân Lộc (trước là Hoạt Lộc), Mỹ Hội. 

- Bắc giáp rạch nhỏ và địa phận thôn Phú Nhuận (Bình Trị Hạ).  

Đến ngày 18-2-1859 quân Pháp đánh thành Gia Định dân chúng đa số tị địa, thôn giải thể. Sau đó số người công giáo theo giám mục Lefèbre từ thôn Tam Hội (phía Khánh Hội) tới chiếm địa bàn thôn này lập các thôn mới là An Hòa, Hiệp Hòa, Phú Hòa, Chơn Sảng, và Phú Hòa Vạn thuộc tổng Tourane(9) trực thuộc huyện Dương Hòa, phủ Tân Bình sau là hạt thanh tra Sài Gòn. Ngày 6-2-1882 làng Tân Định được thành lập do nhập hai làng An Hòa và Hiệp Hòa thuộc hạt tham biện 20. (Khu vực giữa 2 đường Hai Bà Trưng và Nam Kỳ khởi Nghĩa). Ngày 12 -1-1888 hạt 20 giải thể, làng Tân định giải thể luôn, nhập vào thành phố Sài Gòn và chia thành hộ. Xóa tên làng Tân Định.

Năm 1906, thành phố Sài Gòn được chia thành 6 hộ, trong đó có hộ Tân Định gồm địa giới ba làng Tân Định, Phú Hòa và Nam Chơn cũ, (làng Nam Chơn gồm hai làng Chơn Sảng và Phú Hòa Vạn)(10). Lúc này Tân Định nới rộng qua bên kia đường Hai Bà Trưng.

Ngày nay trên địa bàn phường Tân Định vẫn còn các đình Phú Hòa, Nam Chơn, Sơn Trà là dấu tích các làng do nhóm người Đà Nẵng xưa lập nên. Năm 1927, chợ Tân Định mới (trước là chợ Phú Hòa) được chính quyền lúc bấy giờ khánh thành sau một năm xây mới, là sự kiện lớn tại Sài Gòn lúc bấy giờ.

Tân Định là phường thuộc Thành phố Hồ Chí Minh từ 21-12-1988 do nhập ba phường 1, 2, 3. Sở dĩ đặt tên này là vì đây thuộc địa bàn thôn Tân Định xưa. Là tên phường hiện nay(11).   

Chúng ta xem thêm về lịch sử hai làng An Hòa và Phú Hòa.

An Hòa(12): 

Làng thuộc tổng Tourane hạt thanh tra Sài Gòn do người Pháp lập năm 1862 gồm những người dân Đà Nẵng theo tàu quân đội Pháp vào Gia Định. Lúc đầu số người này đổ bộ lên vùng Khánh Hội lập thành Tam Hội dựa vào sự bảo vệ của quân Pháp đóng ở đồn Hữu Bình hay pháo đài phía Nam (Fort du Sud). Theo quân Pháp lên chiếm đóng khu vực thành Gia Định cũ, số người này theo lên chiếm các vườn nhà và chủ cũ đã bỏ đi tị địa, nằm dọc bờ rạch Thị Nghè, lập thành ba làng mới An Hòa, Phú Hòa, Hiệp Hòa. Ngày 10-1-1881  đổi thuộc tổng Bình Chánh Thượng hạt tham biện 20. Ngày 6-2-1862 hợp với làng Hiệp Hòa thành làng Tân Định. Xóa tên

Phú Hòa(13): 

Thôn do người Pháp lập trên bờ Nam rạch Thị Nghè thuộc tổng Tourane hạt thanh tra Sài Gòn từ 1862. Từ 5-1-1876 gọi là làng thuộc hạt tham biện Sài Gòn rồi Bình Hòa.  Ngày 10-1-1881 đổi thuộc tổng Bình Chánh Thượng, hạt tham biện 20. Ngày 12-11-1894 nhập vào thành phố Sài Gòn . Xóa tên. 

2. Làng Xuân Hòa không thuộc Tân Định

Xuân Hòa(14): 

Là thôn thuộc tổng Bình Trị Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định triều Thiệu Trị, Tự Đức. Đầu Pháp thuộc vẫn tổng cũ, đặt thuộc hạt thanh tra Sài Gòn (3-8-1866). Từ 5 -1-1876 gọi là làng, đổi thuộc hạt tham biện Sài Gòn, rồi hạt tham biện Bình Hòa (24-2-1876). Điều này có thể không đúng vì trong bản đồ năm 1815 của Trần văn Học vùng này là vùng Tân Định.

Ngày 27-10-1879 Pháp lập ra hạt 20, trong đó có thôn Xuân Hòa được tách từ làng Tân Định thuộc tổng Bình Trị Trung, huyện Bình Dương(15). Trong  nhiều bản đồ các quận do người Pháp vẽ từ năm 1881-1887(16), đình Xuân Hòa  nằm trong địa giới làng Xuân Hòa.

Ngày 10-1-1881 làng Xuân Hòa đổi thuộc tổng Bình Chánh Thượng, hạt tham biện 20. 

Ngày 12-1-1888 hạt 20 giải thể, tổng Bình Chánh Thượng nhập một phần vào thành phố Sài Gòn, chỉ còn làng Phú Thạnh và một phần làng Xuân Hòa(17) . 

Ngày 15-2-1895 một phần làng Xuân Hòa còn lại nhập vào làng Hòa Hưng(18). Xóa tên làng Xuân Hòa, và tổng Bình Chánh Thượng giải thể. xóa tên.

Lưu ý  trong “Gia Định Thành Thông Chí “và “Địa bạ Gia Định” đều không có tên Xuân Hòa. Đến thời Minh Mạng sau khi tách Tổng Bình Trị thành 3 tổng Bình Trị thượng, Bình Trị trung, Bình Trị hạ cũng chưa có tên Xuân Hòa. 

3. Đình Xuân Hòa tiền thân là đình Tân Định

Trong đình có hoành phi treo trước án thờ thần nông “Tân Định đình” (đình Tân Định) lạc khoản ghi năm Nhâm Tý 1852(19), vì trước đó đình thuộc phạm vi thôn Tân Định (năm 1859 thôn Tân Định giải thể). Đến năm 1882 (năm làng Tân Định được thành lập lại từ hai làng An Hòa và Hiệp Hòa) vị trí đình lại thuộc làng Xuân Hòa, do đó có hoành phi treo tại chánh điện “Xuân Hòa Đình” (đình Xuân Hòa) là năm Bính Ngọ 1906. 

Chúng ta có thể kết luận: 

- Làng Tân Định được lập do nhập hai làng An Hòa, Hiệp Hòa. Ngày 6-2-1882, không phải do hai làng Xuân Hòa, Phú Hòa.

- Làng Tân Định đổi thành làng Xuân Hòa là không chính xác. Làng Xuân Hòa được thành lập năm 1879 bằng việc tách ra từ vùng đất không tên, vùng này là đất Tân Định cũ (thôn Tân Định cũ xóa tên năm 1859). 

- Vùng Tân Định không có 2 làng Xuân Hòa, Phú Hòa. Năm 1879 thành lập làng Xuân Hòa, chưa có tên Tân Định (Tân Định mới dùng lại năm 1882). Năm 1906 Tân Định  mới có thêm làng Phú Hòa.

- Đình Tân Định đổi tên thành đình Xuân Hòa là chính xác. 

Ta xem bản đồ đi kèm để biết vị trí thực sự của thôn/làng Tân Định năm 1815 của Trần Văn Học năm 1815 và bản đồ năm 1882 của Sở Địa chính Pháp.

Cochinchine_francaise Plant des arrondissements, dressés par le service du cadastre et de la topographie 1882 , tỷ lệ 1/20.000, Mr. Le Myre de Vilers tr.5

Từ đình Phú Hòa (159 Trần quang Khải Q.1)  đến đình Xuân Hòa (129 Lý chính Thắng Q.3)  phải qua các đường Hai Bà Trưng, Nam kỳ khởi Nghĩa, khoảng cách theo đường chim bay giữa 2 đình là 800m. Làng Xuân Hòa nằm giữa đường Nam kỳ khởi Nghĩa và Cách mạng tháng 8 và tiếp giáp làng Hòa Hưng (ga Sài Gòn). 

Bản đồ Trần văn Học năm 1815

CHÚ THÍCH:

(1): Tân Định nay tên đất Sài Gòn xưa 

(2): Quận 3 dự kiến có phường Xuân Hòa, tên gọi này bắt nguồn từ đâu?

(3): Tên phường mới Xuân Hòa, Bàn Cờ, Nhiêu Lộc ở quận 3 có ý nghĩa gì?

(4): Nguyễn Đình Tư (2008), Từ điển địa danh hành chánh Nam Bộ, NXB Chính Trị Quốc Gia, tr.974.

(5): Lân鄰: Đơn vị khu vực làng xóm thời xưa, cứ 5 nhà ở một khu gọi là “lân”. Triều Nguyễn các đơn vị địa phương nhỏ được xếp theo thứ tự: xã, thôn, phường, lân, ấp. Tự điển Hán Việt.

(6): Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, Nha Văn Hóa - Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, tập trung, tr.31.

(7): Bản đồ 1815 TV Học .png.

(8): Nguyễn Đình Đầu (1994), Địa bạ Gia Định , NXB Thành phố  Hồ chí Minh, tr.310.

(9): Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (1998). Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh - Tập IV: Tư tưởng và tín ngưỡng,  Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. tr.71-72.

(10): Lê Nguyễn (2005), Xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, tr.31. 

(11): Nguyễn Đình Tư (2008), Từ điển địa danh hành chánh Nam Bộ, NXB Chính Trị Quốc Gia, tr.976

(12): Nguyễn Đình Tư (2008), Từ điển địa danh hành chánh Nam Bộ, NXB Chính Trị Quốc Gia, tr.45 - Làng An Hòa.

(13): Nguyễn Đình Tư (2008), Từ điển địa danh hành chánh nam bộ, NXB Chính Trị Quốc Gia tr.787.

(14): Nguyễn Đình Tư (2008), Từ điển địa danh hành chánh nam bộ, NXB Chính Trị Quốc Gia, tr.1335 - Xuân Hòa.

(15): Phạm Hữu Mỷ, Nguyễn Văn Đường (2007), Di tích lịch sử văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, NXB tổng hợp TP.HCM, tr.177.

(16): Cochinchine Francaise Plant des arrondissements, dressés par le service du cadastre et de la topographie, tỷ lệ 1/20.000, Mr. Le Myre de Vilers tr.5.

(17): Cochinchine Francaise Plant des arrondissements, tr.153 - tổng Bình Chánh Thượng.

(18): Cochinchine Francaise Plant des arrondissements, tr.447- thôn Hòa Hưng.

(19): Phạm Hữu Mỹ, Nguyễn văn Đường (2007), Di tích lịch sử văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, NXB tổng hợp TP.HCM, tr.177.

SÁCH THAM KHẢO:

- Nguyễn Đình Tư (2008), Từ điển địa danh hành chánh Nam Bộ, NXB Chính Trị Quốc Gia.

- Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (1998), Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh - Tập IV: Tư tưởng và tín ngưỡng,  Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.

- Lê Nguyễn (2005), Xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin.

- Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, Nha Văn Hóa - Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa.

- Nguyễn Đình Đầu (1994), Địa bạ Gia Định, NXB TP.HCM.

- Phạm Hữu Mỹ, Nguyễn Văn Đường (2007), Di tích lịch sử văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, NXB tổng hợp TP.HCM. 

- Cochinchine - Francaise Plant des arrondissements, dressés par le service du cadastre et de la topographie (Bản đồ các huyện Nam bộ thuộc Pháp do Sở Địa chính và Địa hình thực hiện).

LÂM HOÀI PHƯƠNG