Trang chủ > 080. Gia phả họ Hà Ngọc (thôn Ngọc Tứ, Điện An, Điện Bàn, Quảng Nam)

080. Gia phả họ Hà Ngọc (thôn Ngọc Tứ, Điện An, Điện Bàn, Quảng Nam)

21/08/2022 19:52:09

Gia phả họ Hà Ngọc ở thôn Ngọc Tứ, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam được Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP.HCM hoàn thành năm 2010.  

LỜI TỰA

Dòng họ Hà Ngọc thôn Ngọc Tứ, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam từ xưa ông bà đã có gia phả. Gia phả cũ do ông Bát Diệp biên soạn lúc cáo quan về quê an dưỡng tuổi già. Gia phả viết chữ Nho, không kết nối được mười đời trước truyền miệng còn mơ hồ trong ký ức và bắt đầu rõ ràng từ đời thứ XI là ngài Hà Ngọc Khanh. Từ đó về sau nối theo chín đời. Chiến tranh, bom đạn thiêu hủy, nhà hư nát, miếu tộc sụp đổ nhưng may mắn tư liệu này còn.  Năm 1972 (Nhâm Tý), ông Hương Cần tục biên thêm đời XX. Ngày 14 tháng 3 năm 1996 (Bính Tý), các anh em ông Hà Ngọc Cần biên chép tay thành nhiều bản đến đời XXII, nhưng vẫn hình thức xưa, hệ thống rời rạc, khó hiểu.

Khi gặp người bạn cùng chiến tuyến, người bạn tù Côn Đảo trước đây giới thiệu bộ Gia phả Họ Trương xã Đức Hòa, Đức Thọ, Hà Tỉnh và bộ gia phả họ Tống Phước phường Kim Long, thành phố Huế do Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Hành Gia Phả TP. HCM biên soạn, ông Hà Ngọc Cần mừng vui như gặp được quí nhơn. Các ông Hà Ngọc Cần, ông Hà Ngọc Duy Cường rất nhiệt tình biên soạn, viết bài cùng Trung Tâm NCTHGP TP HCM đã thực hiện bộ gia phả nầy như mong đợi.

Dựa trên tài liệu cổ, kết hợp thông tin điền dã, các chuyên viên Trung Tâm đã dựng lại theo cấu trúc hoàn chỉnh với kinh nghiệm 20 năm dựng phả của Trung Tâm. 

Để dễ dàng tra cứu, Trung Tâm giới thiệu các phần có trong nội dung như sau:

• Phần I: Phả ký, giới thiệu nguồn gốc tổ quán và quá trình di chuyển, định cư, hôn nhân gắn liền với lịch sử hình thành địa phương đang sanh sống, các ưu điểm và phương hướng xây dựng dòng họ.

• Phần II; Tông đồ, phả hệ, hệ thống phả hệ hàng ngang từ đời thứ XI đến XVIII; chia thành hai phái, phái Nhất và phái Nhì; phái Nhì có ba chi; được bố trí theo hệ thống dọc. Phần nầy ghi lại hành trạng từng nhân vật trong gia tộc gồm ngày sanh ngày mất, mộ phần, nơi ở, nơi làm việc, thân thế sự nghiệp.

• Phần III: Ngoại phả, các bài viết giới thiệu công trình tâm linh của tộc, đất Điện An, xứ sở văn hóa Điện Bàn Quảng Nam; giới thiệu nét đẹp dòng họ (bài viết của gia tộc), quan hệ hôn phối và ảnh hưởng, ngày kỵ giỗ.

Đây là tác phẩm văn hóa dòng họ, tư liệu quí giá của gia tộc, các thành viên trong tộc cần gìn giữ truyền nối nhiều đời để noi gương người trước làm tốt đời sau và đây cũng là tài liệu tốt cho các nhà nghiên cứu văn hóa dòng họ.

Gia phả in sách và ép vào đĩa nhựa thành hai bộ, một gia tộc giữ, một lưu trữ tại TT. Trong quá trình thực hiện do khách quan không nhận được đủ thông tin, có thể có thiếu sót, trong họ cần bổ sung.

Đại diện Hà Ngọc tộc và ban biên soạn kính cáo.

Thành phố HCM, ngày 20 tháng 6 năm 2013.

 

LỜI MỞ ĐẦU

Truyền thuyết kể lại rằng: Từ xưa, xưa lắm tại vùng đất tỉnh Cao Bằng có họ tộc Hà - một họ tộc khá đông người đã cùng với các họ tộc khác khai mở vùng đất địa đầu Tổ quốc Việt Nam từ rất sớm. 

Cũng theo truyền thuyết, năm 1284, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (1253 - 1330) được vua nhà Trần cử lên vùng Tây Bắc dẹp loạn Trịnh Giác Mật. Người tộc trưởng họ Hà nhờ thông thạo tiếng dân tộc đã hiến nhiều kế sách giúp Tướng quân Trần Nhật Duật sớm thu phục được chúa đạo Đà giang là Trịnh Giác Mật, khôi phục sự đoàn kết vốn có của trăm họ Đại Việt lúc bấy giờ tại miền biên viễn.

Năm 1418, hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của vua Lê Thái Tổ, một nhánh của tộc Hà từ tỉnh Cao Bằng do một chi trưởng của họ tộc dẫn đầu, vượt đại ngàn, núi cao miền Tây Bắc về vùng Thanh Hóa tình nguyện tham gia nghĩa quân Lam Sơn chống giặc ngoại xâm. Tại vùng đất Thanh Hóa họ tộc Hà phát triển từ vùng Hà Trung sang Thạch Thành, Nga Sơn, Hoàng Hóa, Nông Cống, Bá Thước,...

Năm 1558 (Mậu Ngọ) Nguyễn Hoàng được chúa Trịnh (Trịnh Kiểm) cử vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa. Tại vùng Tống Sơn thuộc huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa, cùng với nhiều bộ họ khác, họ Hà đã tình nguyện theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Tại vùng đất mới, dòng họ Hà đã cùng với các họ tộc anh - em khai hoang mở đất góp sức lập nên vùng đất Phú Xuân (Thừa Thiên Huế).

Song từ nam 1619 dưới thời trị vì của các con, cháu Nguyễn Hoàng từ Nguyễn Phúc Nguyên về sau, cuộc nội chiến giữa chúa Trịnh đàng ngoài và chúa Nguyễn đàng trong kéo dài nhiều năm dân chúng bị bắt làm phu dịch cực khổ lại thêm bị tầng lớp quan lại địa phương hà khắc, nhũng nhiễu. Do vậy, cùng với các tộc khác, một bộ phận người tộc Hà lại tiếp tục rời xứ Phú Xuân (Huế) vượt qua đèo Hải Vân tiến về phía Nam, đến khoảng năm 1568 - 1569 thì dừng chân tại một vùng đồng bằng phía Bắc sông Thu Bồn, ngày nay thuộc xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (lúc bấy giờ gọi là Dinh Quảng Nam).

Cũng theo truyền thuyết kể lại: Vào năm 1570 vị Thủy tổ tộc Hà đời thứ X đã quyết định từ đời thứ XI trở đi là thời "Đệ thập nhất thế" lấy chữ "Ngọc" làm chữ lót cho tên gọi người tộc Hà, gọi là "Hà Ngọc" với mong muốn con cháu đời sau làm người chân chính, chuộng điều nhân nghĩa và điều thiện, xa lánh điều ác, giữ tấm lòng sáng trong như : "Ngọc". Cùng với quyết định trên, ông lập người con trưởng làm Trưởng tộc Hà Ngọc, đời thứ XI đó là Đức ông Hà Ngọc Khanh. Vị Thủy tổ đời thứ X của tộc Hà còn quyết định con cháu sẽ định cư - an cư lạc nghiệp tại vùng đất mới: Thôn Giáp Tứ, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Con cháu họ Hà Ngọc truyền đến đời thứ XVIII xuất hiện một tráng niên có diện mạo khôi ngô, thông minh xuất chúng. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh nghèo khó, song ông quyết định không an thân thủ phận, năm 18 tuổi ông rời gia đình đi tìm thầy giỏi để theo học. Năm 20 tuổi, tỉnh Quang Nam mở khoa thi tuyển vỏ sinh, ông thi đậu và vào năm 1884 được tuyển chọn đưa ra kinh đô Huế sung vào đội quân Cấm vệ (còn gọi là Ngự Lâm Quân). Đó là đức ông Hà Ngọc Diệp.

Sau biến cố chính trị tại kinh đô Huế đêm ngày 7, tháng 7, năm Ất Tỵ (1885). Vua Hàm Nghi rời bỏ ngai vàng ra Tân Sở tỉnh Quảng Trị lập chiến khu và ban bố Hịch Cần Vương chống xâm lược Pháp.

Trong đội quân ra chiến khu lúc bấy giờ có Đức ông Hà Ngọc Diệp. Năm 1886 Đức ông Hà Ngọc Diệp được phong hàm Chánh Bát Phẩm, chức Đội Trưởng chỉ huy 100 quân cấm vệ. Năm 1888 vua Hàm Nghi bị giặc Pháp bắt, bị đưa đi đày tại Angieri Châu Phi. Đức ông Hà Ngọc Diệp tham gia vào đội nghĩa quân chống Pháp do lãnh tụ Phan Đình Phùng lãnh đạo. Đến năm 1895, Đức ông lâm bệnh nặng, sức lực cạn kiệt, buộc Đức ông phải rời hàng ngũ nghĩa quân. Năm 1898 Đức ông Hà Ngọc Diệp về đến quê nhà thôn Tứ Giáp, xã Điện An, huyện Điện Bàn làm ruộng nuôi người vợ ốm đau không tự đi đứng được.

Người dân làng Điện An tôn kính Đức ông Hà Ngọc Diệp không chỉ vì Đức ông có phẩm hàm Chánh Bát Phẩm do vua phong, đã từng chỉ huy 100 nghĩa quân chống Pháp xâm lược, mà còn vì bản tánh ông lương thiện, thương người, luôn gần gủi của Đức ông, dân làng yêu mến gọi ông là “ông Bát Diệp”. Trong lòng Đức ông luôn nghĩ đến dân, căm ghét giặc ngoại xâm. Ngày 20 tháng 2 năm 1908, dân làng Điện An còn theo ông cùng với hàng ngàn đồng bào ở các thôn, xã khác bao vây dinh quận Điện Bàn tại Vĩnh Điện đòi thực dân Pháp giảm xâu thuế cho dân.

Thương vợ, yêu con, mỗi lần giặc Pháp đi càn bố, dân làng còn chứng kiến cảnh Đức ông vai cỏng vợ, tay dắt con đi chạy giặc. Đức ông Hà Ngọc Diệp từ biệt cháu con đi vào cỏi vĩnh hằng để lại một cuộc đời vô cùng phong phú, để lại cho dân làng Tứ Giáp – Điện An và con cháu Hà Ngọc biết bao thương tiếc.

Từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế hệ con cháu Hà Ngọc từ đời thứ 19 đến đời thứ 21 vốn mang trong mình giòng máu yêu nước bất khuất chống giặc ngoại xâm của các bật tiền hiền tộc họ Hà Ngọc để lại. Đóng góp sức người, sức của cho hai cuộc kháng chiến cứu nước. Có gia đình 4 người con trai ra trận. Có gia đình cha, con, rể, dâu đều là đảng viên. Có người là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Cháu con Hà Ngọc tại quê hương kiên cường bám trụ, chống đở, khắc phục, vượt qua biết bao địch hoạ, thiên tai hạn hán, bảo lụt. Con cháu Hà Ngọc lao động cần cù, tất cả họ đều là những công dân tốt, cháu chắt nội – ngoại có người hiện là Tiến sĩ, kỹ sư, cử nhân, cán bộ cao cấp trong quân đội.

Tất cả đều đồng tâm hướng về chữ “Ngọc”, sáng trong như “Ngọc” – tên lót mà tiền nhân đã đặt cho.

Giòng họ tộc Hà Ngọc trải mấy trăm năm, biết bao trầm tích lắng đọng của thời gian là huyền sử, là truyền thuyết, song đó là tất cả niềm tự hào, là điểm tựa tinh thần vĩnh cữu của các thế hệ cháu con Hà Ngọc tộc.

Trong bao lớp trầm tích của thời gian ấy, bóng dáng tổ tiên lồng lộng giữa mây ngàn gió núi. Linh hồn của cha ông luôn bàng bạc phù hộ cho bao lớp cháu con. Xương máu của bao thế hệ tiên liệt tộc Hà Ngọc thấm đẫm từ Cao Bằng địa đầu Tổ quốc đến Thanh Hoá, Thuận Hoá, Phú Xuân, đến Điện An, Điện Bàn của tỉnh Quảng Nam kiên cường trung dũng.

Vốn mang trong người dòng máu yêu nước, yêu công lý, chuộng lẽ công bằng, giòng máu phiêu bạt dặm dài trên những nẽo đường thiên lý của ông cha, hậu duệ tộc Hà Ngọc đã có mặt, an cư trên các vùng đất Phương Nam từ thành phố Hà Chí Minh đến Tây Ninh, Tiền Giang, Cần Thơ miền cực Nam của Tổ quốc.

Thấm nhuần đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, để mãi mãi khắc ghi công lao – công ơn của bậc tiền nhân đã dày công xây dựng để có một họ tộc Hà Ngọc ngày hôm nay sánh vai cùng các họ tộc khác của trăm họ Việt Nam cùng kiến tạo dựng xây đất nước.

Lớp hậu duệ đời thứ 20 – 21, xin xây dựng và in ấn xuất bản cuốn Gia phả của tộc Hà Ngọc.

Như phần trên chúng tôi đã đề cập, trải bao trầm tích của thời gian, lịch sử Gia phả Hà Ngọc chủ yếu là truyền miệng từ đời này sang đời khác, là Gia phả của huyền sử, truyền thuyết. Do vậy, sẽ không tránh được những hạn chế, thiếu sót. Đây là việc làm cực kỳ khó khăn. Song, chúng tôi nghĩ, dù khó cũng phải làm, ngày nay làm đã chậm, đã khó, nếu kéo dài đến con cháu dời sau thì càng chậm càng khó hơn khi tiếp cận với chiều dài lịch sử dòng tộc.

Với tinh thần đó, chúng tôi mong rằng: Bà con nội – ngoại ruột rà trong họ tộc, các vị thân hào, nhân sĩ, trưởng lão của các họ tộc khác trong xã Điện An, trong thôn Ngọc Tứ và các nơi khác trong và ngoài tỉnh Quảng Nam nhiệt tình góp ý bổ sung. Mong rằng cuốn Gia phả tộc Hà Ngọc nhờ đó sẽ đầy đủ hơn.

“Tổ tiên công đức muôn đời thịnh.

Con cháu thảo hiền vạn đại vinh”.

Thay mặt lớp hậu duệ đời thứ 20 - 21

Hà Ngọc Cần

Kính cáo

 

PHẢ KÝ HỌ HÀ NGỌC

Theo truyền thuyết, tại tỉnh Cao bằng có họ Hà ở đây khá đông, khai phá đất hoang lập làng định canh, định cư cùng nhiều họ khác. Vào năm 1248, ngài Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (1253-1330)* chinh phạt loạn Trịnh Giác Mật, người người trưởng tộc họ Hà thông hiểu tiếng dân tộc giúp tướng quân Trần Nhật Duật thu phục giặc, khôi phục sự đoàn kết các họ Đại Việt miền biên thùy Tây Bắc.

Năm 1418, vua Lê Lợi chiêu mộ nghĩa sĩ, một chi họ người họ Hà từ Cao Bằng  về Thanh Hóa tham gia nhĩa quân Lam Sơn. Người họ Hà bắt đầu phát triển tại Hà Trung, Thạch Thành, Nga Sơn, Hoằng Hóa, Nông Cống, Bá Thước … 

Đến năm 1558 (Mậu Ngọ), Nguyễn Hoàng được Chúa Trịnh sai vào trấn đất Thuận Hóa, khai mở Hoành Sơn, họ Hà Thanh Hóa cùng nhiều dòng họ khác đi theo. Trong đợt khai mở nầy họ Hà đến định cư tại đất Thuận Hóa, sanh con cháu thành một chi họ mới tại đây. 

Những cánh chim đi tìm đất lành chưa chịu dừng lại, khoảng năm 1700, từ Phú Xuân một nhóm người họ Hà băng đèo Hải Vân đến lập làng Ngọc Tứ, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam vốn vùng đất nầy thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa; cùng ba họ: Đỗ Như, Nguyễn Trọng, Đoàn Thế. Họ Hà  chia làm hai chi họ, một bên là Hà Phước một bên là Hà Ngọc. 

Trở lại với hệ thống phả hệ họ Hà Ngọc, người cao đời nhất ghi trong gia phả cũ là ngài Hà Ngọc Khanh.

Họ Hà Ngọc thôn Ngọc Tứ hiện nay chọn ngài Tổ đời XI làm Tổ chi họ, mười đời trước tôn thành Tiên tổ. Đời hậu duệ sau cùng trong thời điểm nầy là đời thứ XXII.

Từ vị Tổ đời XI đến đời XIV ghi trực hệ, đến đời ngài Hà Ngọc Cách (đời XIV) sanh hạ hai ông, ông Hà Ngọc Đắc là anh không nối hậu và ông em là ông Hà Ngọc Hải. 

Ông Hà Ngọc Hải cưới bà Thái Thị Thường, người họ Thái cùng xã; cũng sanh hai ông con trai, ông anh mất ông em còn. Ông anh là Hà Ngọc Hai có vợ là bà Đoàn Thị Sáu, người cùng làng, về sau thất tự. 

Ông em là ông Hà Ngọc Nha, đời thứ XVI, cưới bà Đỗ Thị Sỹ, người trong làng, sanh trai gái năm người, trưởng nam là ông Hà Ngọc Chấn, tiếp đến là ông Hà Ngọc Hoạn, ông Hà Ngọc Trác, bà Hà Thị Thơ, Hà Thị Chi.

Ông Hà Ngọc Chấn đời thứ XVII, sanh 2 ông con trai, ông Hà Ngọc Nhỏ là anh, cưới bà Nguyễn Thị Biểu, sanh một đời hết hậu; ông Hà Ngọc Lực cưới bà Phạm Thị Hiếu, sanh hạ hai đời, đời thứ XX thì thất tự; nhánh lớn của phái Nhất vô tự, nhập hương hỏa Mục tổ và Tùng tự tại từ đường.

Ông Hà Ngọc Hoạn đời thứ XVII, cưới bà Đoàn Thị Sửu, sanh ông Hà Ngọc Lội trưởng nam và 2 bà, một bà xuất giá về Bồ Mưng một bà xuất giá về làng Phong Nhất. Ông Hà Ngọc Lội cưới bà Trần Thị Luộc người làng Phong Nhất, sanh hạ Phái Nhất đến đời thứ XXII hiện nay. 

Ông Hà Ngọc Trác đời thứ XVII, con trai thứ ba của ông Hà Ngọc Nha, cưới bà Trần Thị Đích sanh ra 7 người con, 5 trai, có 2 thất tự và 2 người con gái. Ông là người đầu Phái Nhì.

Ông Hà Ngọc Chương đời thứ XVIII, trưởng nam của ông Hà Ngọc Trác; cưới  bà Đoàn Thị Dinh sanh hạ Chi Một của Phái Nhì đến đời thứ XXII.

Ông Hà Ngọc Diệp đời thứ XVIII, thứ nam của ông Hà Ngọc Trác; cưới  bà Võ Thị Trỉ, sanh hạ Chi Hai của Phái Nhì đến đời thứ XXII. Chi Hai phái Nhì là chi đông con cháu nhất của họ Hà Ngọc, làng Ngọc Tứ và cũng là những hậu duệ đảm đương những thịnh suy trong dòng họ.

Ông Hà Ngọc Hý đời thứ XVIII, con trai út của ông Hà Ngọc Trác; cưới  bà Nguyễn Thị Tâm, sanh hạ Chi Ba của Phái Nhì đến đời thứ XXI có hai người con trai.

Người họ Hà Ngọc xưa nay bản chất hiền lành, cần cù cày sâu cuốc chín, chủ yếu gắn liền với nhà nông nhiều đời. Trải qua thăng trầm của thời cuộc, họ Hà ảnh hưởng truyền thống đấu tranh, yêu quê hương của xứ sở Điện Bàn nên thời kỳ nào cũng có người họ Hà tham gia các phong trào yêu nước, thoát ly gia đình để gánh vác nợ núi sông. 

Ông Hà Ngọc Diệp, sanh năm 1865, năm 1881 dự thi chọn võ sinh tại Điện Bàn, năm sau đậu vào võ sinh tỉnh Quảng Nam và năm 1883 lại được tuyển vào Ngự Lâm quân dưới triều vua Phúc Kiến, sau đó cùng đội quân phò tá vua Hàm nghi ra Tân Sở, Quảng Trị. 

Tháng 7 năm 1885 vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương chống Pháp, ông vẫn theo phò vua ra đến Ấu Sơn, Hương Khê, Hà Tỉnh. Tháng 11 năm 1888 vua Hàm Nghi bị bắt, ông vào nghĩa quân của ông Phan Đình Phùng tiếp tục thực hiện chí hướng của mình.

Năm 1895, bệnh nặng, sức yếu; ông xin về an dưỡng làm ruộng cùng bà bù đắp lại một thời 15 năm lưu lạc để riêng bà gánh hết việc gia đình và cả việc phụng dưỡng mẹ cha, nuôi con thay chồng. Những năm tháng cuối đời, bà bị tai biến trở thành người tàn tật, ông là người chăm sóc, cõng dắt  lúc giặc giã. Đến 19 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1954) bà chết, sau hơn 6 năm, ngày mùng 7 tháng 2 năm Canh Tý (1960), ông qua đời, thọ 95 tuổi. Ông là đội trưởng  coi 100 quân cấm vệ, được vua Hàm Nghi phong tặng hàm Chánh Bác Phẩm triều đình, ông là tấm gương gần nhất và sáng nhất trong quá khứ của các thế hệ họ Hà.

Khi có phong trào chống Pháp của các sĩ phu người Điện Bàn hưởng ứng theo các cụ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Phạm Phú Thứ; của Mặt trận Việt Minh, lớp kế tục đời thứ XIX của họ Hà đã tham gia chống thuế, vào lực lượng cán bộ, dân quân Việt Minh, là đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, đóng góp công của cứu nước. 

Đến năm 1954, đất nước phải chia đôi, ông Hương Cần tức ông Hà Ngọc Xinh tiếp tục làm cơ sở Cách mạng, nhà ông là cơ quan bí mật họp hội, in ấn tài liệu (thạch bản cất giấu dưới giếng bùn và nước sâu không tìm lại được). Các con ông, hai người tập kết ra Bắc. Người con thứ hai, tham gia lực lượng võ trang Quân đội Nhân dân Việt nam, hàm Thiếu úy, công tác phía Bắc; sau chuyển sang học ngành Y Dược, bổ nhiệm giữ chức Giám đốc 

Công ty Dược Yên Bái, Năm 1976 lại chuyển về Quảng Nam phụ trách ngành Thủy Lợi của tỉnh. 

Người con trai thứ ba, về Nam chiến đấu trong vai trò chính trị viên Trung đoàn trong Quân đội Nhân dân Việt Nam tại chiến trường Tây Nguyên sau chuyển sang chiến trường Đông Nam bộ, nghỉ hưu về được phong hàm Đại Úy, chuyển ngành dân chính giữ chức Phó Giám đốc sở Xây dựng tỉnh Quảng Nam. 

Người con cả là ông Hà Ngọc Cần đưa vợ con vào Nam hoạt động trong Cánh 109, xây dựng cơ sở nội thành tại thành phố Hồ Chí Minh, bị bắt đưa đi tù Côn Đảo. 

Người con trai cuối cùng của ông Hương Cần cũng vào chiến khu, là bộ đội Quân Đội Nhân dân Việt Nam, bị thương chuyển về Tỉnh Đội Tây Ninh, nghỉ hưu được phong hàm Đại Tá. Những người con họ Hà Ngọc tại quê nhà hưởng ứng  đi đầu các chính sách của Đảng, Nhà Nước góp phần tích cực trong cuộc Cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân, đấu tranh giành lại độc lập tự do.

Sau ngày Giải phóng, thống nhất đất nước, con cháu đời XX còn tham gia công tác Nhà Nước một thời gian, lớn tuổi phải về nghỉ hưu. Một số khác xây dựng kinh tế gia đình ở Lâm Đồng, Ninh Thuận, Đắc Lắc, Bình Thuận, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đến định cư lập nghiệp sanh con cháu họ Hà Ngọc, chắc chắn sẽ hình thành những phân chi Hà Ngọc tại đó và họ Hà Ngọc thôn Ngọc Tứ luôn luôn là cội nguồn để cùng nhau Hội Tổ. Lớp người đời XXI trưởng thành, chăm lo học tập, tốt nghiệp Đại học rất nhiều, được bố trí từ công tác chính quyền đến công tác chuyên môn, Giám đốc các cơ quan kinh tế công tư, dẫn theo một lớp người là rễ dâu ở nhiều vị trí quan trọng. Đời XXII còn quá trẻ, hiện đang đi học.

Trong gia tộc họ Hà Ngọc hầu hết theo tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên, tình cảm gia tộc rất gắn bó, đoàn kết, luôn chia sẻ những đau buồn của thân quyến dù ngoại hay nội. Hiện nay, do công tác, do môi trường thuận lợi với cuộc sống , họ Hà Ngọc có mặt khắp nơi. Sự giao hảo với những dòng họ khác, với đồng chí, với người cùng quê hương họ Hà Ngọc rất chân tình, thể hiện nét hiền hòa ông cha lâu đời để lại.

Theo thống kê từ tư liệu của gia phả hiện nay tổng số người từ đời XI đến đời XXII cả người đã chết và còn sống có 160 người. Số người hiện nay đang sinh sống, công tác, học tập là 88 người. Trong quá trình xây dựng hạnh phúc gia đình cho những người trưởng thành đã diễn ra 74 cuộc hôn phối, các họ  gần xa đã thành thông gia là 19 họ. Gồm có họ Hà Phước 1, họ Trần 10 cuộc, họ Đỗ 4 cuộc, họ Lữ 1 cuộc, họ Nguyễn 22 cuộc, họ Lê 7 cuộc, họ Phạm 3 cuộc, họ Thái 1 cuộc, họ Võ 4 cuộc, họ Phan 5 cuộc, họ Trương 1 cuộc, họ Huỳnh 1 cuộc, họ Dương 3 cuộc, họ Lương 1, họ Đoàn 8 cuộc, họ Đinh 2 cuộc, họ Trịnh 1 cuộc, họ Ngô 1 cuộc, họ Kiều 1cuộc.

Ngày chạp mả hằng năm là ngày mùng 2 tháng chạp, ngày tế thu là ngày 24 tháng 7; con cháu các nơi theo lệ không cần nhắc bảo tập trung về nhà thờ cúng giỗ. Lễ cúng thường bố trí một người lớn tuổi hoặc trưởng tộc làm chánh tế, quỳ lạy nghinh tiên linh Triệu Tổ tại bàn giữa; hai người khác là bồi tế, phân hiến quỳ lạy nghinh Chiêu Tổ Mục Tổ hai bàn bên, học trò lễ dâng tiến lễ. Các nghi thức khác có nhạc lễ, văn tế, trống chiêng, trong ngoài cờ lọng. Đây là hình thức văn hóa dân gian đất Quảng khôi phục lại khoảng 10 năm trở lại đây. Lễ vật thường là hương, hoa, quả, xôi, bánh dân giã, heo, gà... nói chung cổ bàn đải cho con cháu món nào đều bày lên cúng cả. 

Ý nghĩa của ngày chạp mả là lúc tập trung đi thăm, xem xét chỉnh trang lại mồ mả; dâng lễ lên để tưởng nhớ Tổ tiên; cuối cùng là cơ hội con cháu nội ngoại họp mặt, ghi nhận mối quan hệ huyết thống, biết vai thứ, đời trong họ, tránh những trường hợp loạn cương thường đạo lý. Kinh phí thường không có quỹ hương hỏa nên người đến dự ăn uống trò chuyện xong góp tiền mới ra về. Ngày tế Xuân và tế Thu, lễ phẩm đơn hơn, chỉ có lo việc cúng. Nhập gia tùy tục, người họ Hà cùng nhiều họ tại Quảng Nam đều có giống nhau, quy mô lớn nhỏ tùy năng lực và số lượng con cháu.

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Điện An là một xã thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Xã Điện An có diện tích 10,78 km², dân số năm 1999 là 12742 người, mật độ dân số đạt 1182 người/km².

Vùng đất Điện Bàn xưa từ năm 192 đến năm 1306 thuộc vương quốc Chăm Pa.

Sau cuộc hôn nhân huyền thoại của công chúa Trần Huyền Trân vào năm 1306, vua Chăm là Chế Mân đã dâng hai châu Ô và Lý cho nhà Trần để làm sính lễ. Năm 1307, hai châu Ô và Lý được đổi thành Thuận Châu, Hóa Châu. Vùng đất Điện Bàn thuộc phần đất phía Nam của Hóa Châu.

Năm 1435, địa danh Điện Bàn được Nguyễn Trãi ghi vào “Dư địa chí” gồm 95 xã thuộc phủ Triệu Phong của lộ Thuận Hóa.

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thành lập đạo thừa tuyên Quảng Nam. Năm 1520, vua Lê Chiêu Tông đổi thành trấn Quảng Nam. Điện Bàn bấy giờ vẫn là một huyện thuộc phủ Triệu Phong của trấn Thuận Hóa xưa.

Năm 1602, Nguyễn Hoàng đổi thành dinh Quảng Nam và năm 1604 tách huyện Điện Bàn ra khỏi trấn Thuận Hóa, thăng lên thành phủ và nhập về Quảng Nam. Dinh trấn Quảng Nam đóng tại xã Thanh Chiêm, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, do các công tử của Chúa Nguyễn lần lượt đến trấn thủ.

Năm 1803, vua Gia Long lập dinh Quảng Nam gồm 2 phủ: Thăng Hoa và Điện Bàn. Phủ Điện Bàn gồm 2 huyện: Diên Phước và Hòa Vang. Năm 1806, dinh Quảng Nam đổi thành trực lệ Quảng Nam dinh thuộc Kinh Sư. Năm 1827, vua Minh Mạng cho đổi thành trấn Quảng Nam. Năm 1832, đổi trấn Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam. Năm 1833, tỉnh đường Quảng Nam được xây dựng tại làng La Qua. Năm 1899, phủ Điện Bàn có thêm huyện Đại Lộc. Sang đầu thế kỷ XX, khi huyện, phủ thành những đơn vị hành chính riêng thì huyện Điện Bàn hôm nay chính là phần đất của huyện Diên Phước trước đây.

Theo phân chia địa giới hành chánh hiện nay Điện Bàn có 19 xã: Điện An · Điện Dương · Điện Hòa · Điện Hồng · Điện Minh · 

Điện Nam Bắc · Điện Nam Đông · Điện Nam Trung · Điện Ngọc · Điện Phong · Điện Phước · Điện Phương · Điện Quang · Điện Thắng Bắc · Điện Thắng Nam · Điện Thắng Trung · Điện Thọ · Điện Tiến · Điện Trung và thị trấn Vĩnh Điện là huyện lị.

Điện Bàn là huyện đồng bằng ven biển phía Bắc của tỉnh Quảng Nam. Địa bàn huyện Điện Bàn được khai khẩn thành một vùng đất trù phú của xứ Đàng Trong, còn gọi là phần lãnh thổ của Amaravati (ChamPa) đã có sản xuất nông nghiệp với nhiều giống cây trồng khác nhau, biết làm thủy lợi và có những công trình kiến trúc độc đáo và đã trở thành một phần lãnh thổ của Đại Việt từ các thời Trần – Lê – Mạc đến thời các Chúa Nguyễn. 

Điện Bàn trải từ 15050' đến 15057' vĩ độ Bắc và từ 1080 đến 108020’ kinh độ Đông, cách thành phố Tam Kỳ và là tỉnh lỵ Quảng Nam 48 km về phía Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Nam. Phía 

Bắc giáp huyện Hòa Vang và quận Ngũ Hành Sơn (thành phố Đà Nẵng), phía Nam giáp huyện Duy Xuyên, phía Đông Nam giáp thành phố Hội An, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Đại Lộc.

Với diện tích là 214,28 km2, dân số (theo thống kê ngày 1/4/2009) là 195.048 người. Nhiệt độ trung bình 25,5 Oc; độ ẩm trung bình 82,3%; lượng mưa bình quân năm 2000-2500mm, tập trung các tháng 9,10,11.

Điện Bàn là huyện phát triển nhất hiện nay của tỉnh Quảng Nam, với khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, với khu thị trấn Vĩnh Điện đang phát triển sầm uất. Trong những năm gần đây, kinh tế - xã hội Điện Bàn đã có những bước phát triển mạnh và vững chắc. Vì vậy, việc xây dựng Điện Bàn trở thành một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa lớn với các chức năng cơ bản là một trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ của Bắc Quảng Nam; trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục - đào tạo của khu vực là tất yếu khách quan nhằm tranh thủ thời cơ và khai thác lợi thế vốn có của huyện. Và dự định vào năm 2015 Điện Bàn sẽ được nâng cấp thành thị xã, với trung tâm là thị trấn Vĩnh Điện và khu đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc.

Huyện Điện Bàn có nhiều làng nghề nổi tiếng. Xã Điện Phương có nghề đúc đồng Phước Kiều, gỗ mỹ nghệ truyền thống Nguyễn Văn Tiếp, bánh tráng Phú Triêm ... Nghề trồng dâu nuôi tằm cùng vói việc trồng thuốc lá ở các xã thuộc khu vực đất bồi rất phì nhiêu Gò Nổi. Ngoài ra Điện Bàn còn có những đặc sản mà du khách nhiều nơi đến thưởng thức sẽ có cảm nhận một Quảng Nam rất ấn tượng: Thịt bò thui Cầu Mống, Mì Quảng Phú Chiêm, Tré Vĩnh Điện.

NGƯỠNG VỌNG 

BỔN ÂM ĐƯỜNG THƯỢNG
CAO ĐẠI VIỄN TỔ LỊCH ĐỢI TÔNG THÂN 
LƯ GIANG QUẬN 
HÀ TỘC TRIỆU TỔ

TRUY NIỆM
TIỀN NHƠN 
BẮC ĐỊA SƠ CƠ HỆ 
XUẤT NAM THIÊN QUÁN 
TRIỆU PHONG PHỦ - THUẬN HÓA TRẤN 
THẬP ĐẠI TỔ TIÊN

SƠ CƠ 
NGỌC TỨ THÔN, ĐIỆN AN XÃ, 
ĐIỆN BÀN PHỦ, QUẢNG NAM TỈNH, 
THẬP NHẤT THẾ TIỀN HIỀN
DĨ HẠ TRUYỀN THỪA
HÀ NGỌC TỘC

PHỤNG SAO – TU SOẠN

QUÝ TỴ
2013

Nhìn đến ân của Tổ Tiên dòng họ Hà các đời cao xa từ nơi nguyên thủy. Nghĩ về người trước tạo dựng cơ nghiệp đầu tiên nơi đất Bắc và mười đời đi đến phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa.

Nơi tân tạo là thôn Ngọc Tứ, xã Điện An, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam từ Tiền Hiền đời thứ mười một nối tiếp về sau của họ Hà Ngọc.